Arrival: chạm vào bí ẩn

Đây không phải là review về bộ phim Arrival. Đây là vài ghi chép về những gì hay và đẹp nhất mà Arrival đã chạm đến. Dành tặng bạn, người đọc đủ duyên.

arrival-movie-4-e1471529984165

PHẦN 1 – NGÔN NGỮ

“Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời”. Sách Phúc Âm John đã mở đầu như thế. Ngôi Lời (“Word”, hay “Logos”) được các nhà thần học Thiên Chúa Giáo coi là điều bí ẩn thiêng liêng và là đồng nhất với đức Giê-su (1). Các triết gia Hy Lạp cổ đại coi Logos là nguyên lý nền tảng của logic, biện luận và tri thức (2). Thế còn các nhà sử học/nhân học thì sao?
70,000 năm trước, Homo sapiens không phải là loài người duy nhất trên trái đất. Cùng chia sẻ hành tinh này ở thời điểm đó còn có Homo Rudolfensis (Đông Phi), Homo erectus (Đông Á), và Homo neanderthalensis (Châu Âu và Tây Á). Nhưng Homo sapiens là loài duy nhất đã trải qua cuộc Cách mạng Nhận thức (the Cognitive Revolution).
“Đâu là nguyên nhân của cuộc cách mạng này? Không ai biết chắc cả. Lý thuyết phổ biến nhất cho rằng đây là một sự đột biến gen ngẫu nhiên đã tác động đến cấu trúc não bộ của Sapiens, khiến họ có thể tư duy theo cách chưa từng có và giao tiếp bằng một ngôn ngữ hoàn toàn mới. Chúng ta có thể gọi đây là đột biến Cây Tri Thức (Tree of Knowledge mutation). Tại sao nó lại xảy ra với DNA của loài Sapiens thay vì xảy ra với loài Neanderthals? Ở mức độ hiểu biết hiện tại của chúng ta, đây chỉ hoàn toàn là sự ngẫu nhiên (it was the matter of pure chance). Nhưng việc nhận thức hậu quả/kết quả của đột biến Cây Tri Thức còn quan trọng hơn cả việc hiểu được nguyên nhân của nó. Điều gì đã khiến cho ngôn ngữ mới của loài Sapiens đã giúp chúng ta thống trị thế giới?”
“Câu trả lời phổ biến nhất: vì ngôn ngữ của chúng ta hết sức linh hoạt. Chúng ta có thể nối một số hữu hạn các âm thanh và dấu hiệu để tạo ra một lượng vô hạn các câu, mỗi câu mang một ý nghĩa khác nhau. Chúng ta nhờ đó có thể thẩm thấu, lưu trữ và trao đổi một lượng thông tin lớn phi thường về thế giới chung quanh. Một con khỉ có thể hét lên với đồng đội của nó: “Cẩn thận! Sư tử!”, nhưng một con người có thể nói với bạn của cô là sáng hôm nay, gần bờ sông, cô nhìn thấy một con sư tử đang lần theo dấu vết của lũ bò rừng. Từ đó cô có thể miêu tả chính xác địa điểm, bao gồm nhiều đường hướng có thể dẫn đến khu vực đó. Với thông tin đó, các thành viên trong nhóm của cô có thể cùng nhau thảo luận xem liệu họ có nên đến bờ sông, đuổi con sư tử đi và cùng săn bò rừng.”
“Lý thuyết thứ hai đồng ý rằng ngôn ngữ đặc thù của chúng ta phát triển như một phương cách để chia sẻ thông tin về thế giới bên ngoài, nhưng thông tin quan trọng nhất cần chia sẻ không phải là về sư tử hay bò rừng, mà là về con người. Ngôn ngữ của chúng ta tiến hoá như một cách tán gẫu/tám chuyện. Theo lý thuyết này thì Homo sapiens chủ yếu là một loài động vật xã hội (social animal). Hợp tác xã hội là chìa khoá của việc sinh tồn và duy trì nòi giống của chúng ta. Hoàn toàn là không đủ cho các cá thể đàn ông hay phụ nữ nếu họ chỉ biết vị trí của sư tử hay bò rừng. Quan trọng hơn rất nhiều là việc họ biết được ai đang ghét ai, ai đang ngủ với ai, ai đang trung thực và ai là kẻ bịp bợm.”
“Nhưng điều thực sự đặc sắc trong ngôn ngữ của chúng ta không phải là khả năng truyền tải thông tin về người hay sư tử. Mà thực ra, đó là khả năng có thể truyền đạt thông tin về những điều không hề tồn tại. Ở chừng mực hiểu biết của chúng ta, chỉ duy nhất Sapiens là loài có khả năng nói về những thực thể mà chúng chưa từng thấy, chưa từng chạm hay ngửi.”
“Huyền thoại, truyền thuyết, các vị chúa trời hay tôn giáo chỉ bắt đầu xuất hiện từ khi có cuộc Cách mạng Nhận thức. Rất nhiều các loài động vật và người khác có khả năng nói: “Cẩn thận! Sư tử đấy!”, nhưng Homo sapiens là loài duy nhất có khả năng nói, “Sư tử là linh hồn bảo vệ của bộ lạc chúng ta.” Khả năng nói về những điều hư cấu là điểm đặc biệt nhất của ngôn ngữ loài người.”
Khả năng nói về những điều hư cấu là điểm đặc biệt nhất của ngôn ngữ loài người.
“Khá dễ dàng để đồng ý rằng chỉ duy nhất Homo sapiens có thể nói về những điều không tồn tại, và tin vào sáu điều bất khả trước bữa ăn sáng. Bạn không bao giờ có thể thuyết phục một con khỉ đưa cho bạn một trái chuối bằng việc hứa với nó về vô số chuối đang đợi nó trên thiên đàng của khỉ. Nhưng tại sao nó lại quan trọng? Hư cấu có thể tạo phiền nhiễu và gây mê lầm. Đám người xông vào rừng để tìm các tiên nữ hay kỳ lân sẽ có ít cơ hội sống sót hơn đám người đi hái nấm và săn hươu. Và nếu bạn bỏ ra nhiều giờ liền để cầu khấn một linh hồn bảo vệ không-tồn-tại nào đó, chẳng phải là bạn đang lãng phí thời gian quý giá, thời gian mà đáng lẽ nên được dùng vào việc đi săn bắn, chiến đấu và làm tình hay sao?”
Nhưng hư cấu không chỉ giúp chúng ta tưởng tượng ra các thứ, mà giúp chúng ta làm thế cùng nhau.
“Nhưng hư cấu không chỉ giúp chúng ta tưởng tượng ra các thứ, mà giúp chúng ta làm thế cùng nhau. Chúng ta có thể thêu dệt nên các huyền thoại chung như Sáng Thế Ký trong kinh thánh, hay truyền thuyết Thời gian trong Mộng của thổ dân Úc, hay chuyện hoang đường về các quốc gia hiện đại. Những huyền thoại như thế đã cho Sapiens một khả năng vô tiền khoáng hậu trong việc hợp tác một cách linh hoạt với số lượng khổng lồ. Kiến và ong cũng có thể làm việc cùng nhau với số lượng lớn, nhưng chúng chỉ làm như thế bằng một số cách thức rất nghiêm ngặt và chỉ với một vài họ hàng gần gũi. Sói và tinh tinh có thể hợp tác linh hoạt hơn kiến, nhưng chúng chỉ có thể làm thế với một số ít cá thể mà chúng thân thuộc. Sapiens có thể hợp tác với nhau siêu linh hoạt theo vô số cách với vô số cá thể xa lạ. Đó là lý do Sapiens thống trị thế giới, trong khi kiến ăn thức ăn thừa của chúng ta và tinh tinh thì ngồi trong sở thú hoặc trong các phòng thí nghiệm.” (3)
Quay lại phim Arrival, giờ thì chúng ta đã hiểu tại sao người Heptapods nói rằng con người có ngôn ngữ như là vũ khí/công cụ/phương tiện/sức mạnh. Bởi vì cùng một lúc, đó là tất cả các vai trò của ngôn ngữ. Ngôn ngữ kiến tạo và ngôn ngữ phá huỷ. Ngôn ngữ chia cắt và ngôn ngữ nối kết. Khi đổi ngôn ngữ, chúng ta đổi cách tư duy, đổi cách nhận thức. Toàn bộ thế giới – theo nghĩa rộng nhất của từ “thế giới” – thay đổi. Thế nên ta hãy cẩn trọng hơn, và trân trọng hơn, ngôn ngữ mà ta dùng.
Nếu đi xa hơn ngôn ngữ, chúng ta gặp Vô Ngôn của Phật giáo, gặp cái điên của Bùi Giáng, gặp những khoảng lặng im giữa các nốt nhạc. Đi xa hơn ngôn ngữ, chúng ta phải nhìn, nghe, chạm, ngửi, nếm bằng trái tim, để ôm ấp “những điều cốt lõi” (“the essential things” – Hoàng Tử Bé). Cho đến lúc đó, hãy cùng nói về thời gian.
arrival-2016-uk-trailer

PHẦN 2 – THỜI GIAN

“Hãy thử tưởng tượng một cuộc sống không-đếm-giờ. Khả năng cao là bạn không thể. Bạn biết bây giờ là tháng mấy, năm nào, ngày nào trong tuần. Có một chiếc đồng hồ trên tường nhà bạn hay trên màn hình xe bạn. Bạn có một thời gian biểu, một cuốn lịch, một thời điểm định trước cho bữa tối hay việc xem phim. Nhưng xung quanh bạn, chẳng ai màng đến việc đếm giờ. Lũ chim không bao giờ đến muộn. Bọn cún không xem đồng hồ. Đám hươu nai không cáu nhặng lên vì lỡ mất ngày sinh nhật. Chỉ con người đo đếm thời gian. Chỉ con người đánh chuông báo giấc. Và, vì thế, chỉ con người chịu đựng một nỗi sợ hãi khủng khiếp mà không sinh vật nào khác phải gánh chịu. Nỗi sợ hết thời gian.” (4)
Thời điểm chúng ta bắt đầu đong đếm thời gian hẳn cũng không xa bao lâu sau cuộc Cách mạng Nhận thức. Trước đó, không có gì là quá muộn hay quá sớm. Mọi thứ đều xảy ra đúng thời điểm mà chúng cần xảy ra. Mọi sinh vật đều ăn, ngủ, giao phối và chết ở đích xác những lúc chúng cần như thế. Khi con người bắt đầu đếm, thì mới bắt đầu thấy mình có quá ít hay quá nhiều thời gian, tuỳ thuộc vào việc hắn đang đói hay đang no, đang sợ hãi hay đang ở cạnh bạn tình. Một cách đương nhiên, hắn muốn tăng thêm thời gian sung sướng và giảm bớt thời gian khổ sở. Đong đếm thời gian để định cư, để canh tác, để phát triển công nghệ, để đánh nhau và điều khiển lẫn nhau: hắn nghĩ rằng đếm được thời gian là làm chủ đời sống. Hắn không nhận ra một điều căn bản: rằng khi hắn sống thì hắn không đếm, và khi hắn đếm thì hắn không sống. Hắn vẫn đếm, vì đơn giản không thể làm gì khác được. Nhận thức về thời gian là một lời nguyền đối với con người.
Hắn không nhận ra một điều căn bản: rằng khi hắn sống thì hắn không đếm, và khi hắn đếm thì hắn không sống.
Chúng ta bước vào Arrival cùng thời điểm một đứa bé ra đời. Rồi đứa trẻ lớn lên, lớn thêm lên, rồi bệnh và chết. Cảnh trước: người mẹ thẫn thờ đi trong hành lang bệnh viện. Cảnh sau: người mẹ làm công việc thường ngày của bà – giáo sư ngôn ngữ ở một trường đại học. Nhận định của chúng ta: hẳn là bà mẹ đã vượt qua (hoặc cất đi) nỗi đau để tiếp tục sống. Chúng ta dễ dàng rơi vào bẫy của quán tính nhận thức, rằng thời gian là tuyến tính. Có trước, rồi mới có sau. Lần lượt, nối tiếp, không ngừng nghỉ. Đó là cách hiểu phổ biến và dễ dàng nhất về thời gian. Nhưng liệu đó có phải là cách hiểu duy nhất?
Người Heptapods có một nhận thức khác về thời gian. Ngôn ngữ của họ không có “thì”. Họ không nói: “Tôi đang thở” (hay “đã thở”, hoặc “sẽ thở”). Họ nói:
TÔI
THỞ
Tôi và Thở nối với nhau bằng một vệt khói tròn, hiện ra và tan đi nhanh như một làn gió. Bảo rằng “tan đi nhanh” có lẽ không đúng: vệt khói tròn tan đi ngay khi người đối diện nhận đủ thông tin – mọi thứ đều chuẩn xác và đủ đầy, không nhanh, không chậm. Bảo rằng họ “nói” hẳn cũng sai: “nói” là hoạt động phải diễn ra trong thời gian, để âm thanh đủ thời gian di chuyển và kết nối thông tin. Người Heptapods không nói, chỉ viết. Bởi tất cả thời gian đều đã ở đây rồi. Hàng tỉ năm trước hay ngày hôm qua, 5 năm sau hay 3000 năm nữa, tất cả đều có thể chạm vào được NGAY BÂY GIỜ, nếu bạn sử dụng ngôn ngữ của họ.
Hãy thử cân nhắc khả năng này: rằng thời gian không phải là một dòng chảy miên viễn, mà là MỘT THỜI ĐIỂM duy nhất được nhìn ngắm từ nhiều góc khác nhau và trải nghiệm theo nhiều cách khác nhau.
Hãy thử cân nhắc khả năng này: rằng thời gian không phải là một dòng chảy miên viễn, mà là MỘT THỜI ĐIỂM duy nhất được nhìn ngắm từ nhiều góc khác nhau và trải nghiệm theo nhiều cách khác nhau. Cái mà ta tưởng là dòng chảy thực ra chỉ là một bộ sưu tập khổng lồ các khoảnh khắc, mà mỗi khoảnh khắc chỉ là một phiên bản khác nhau của cùng một thời điểm, và không nhất thiết được nối với nhau theo một chu trình tuyến tính. Nhìn từ góc này, ta gọi là “quá khứ”, từ góc kia sẽ gọi là “tương lai”, trong khi tất cả đều là “hiện tại”. Giống như kênh VTV1 vẫn đang chiếu thời sự song song với phim Hàn Quốc trên VTV3 trong khi ta đang xem Planet Earth 2 trên National Geographic. Khi ta chuyển kênh, ta sẽ được đưa đến thời điểm tương ứng, nhưng thực ra ta vẫn chỉ đang ở thời điểm NÀY mà thôi. Ta chuyển kênh khi để mình đắm chìm vào một nỗi đau/niềm hạnh phúc trong quá khứ, hoặc ta sợ hãi/phấn khích trước một điều “chưa đến” từ tương lai. Ta chuyển kênh khi mở rộng cảm quan của mình, khi ta chạm vào nỗi niềm của người khác, khi ta di chuyển khỏi quán tính của ý thức để thể nhập vào những vùng hiểu biết rộng lớn hơn của tiềm thức và/hoặc siêu thức. Và, dù ta có nhớ hay không, tất cả các khoảnh khắc đó đều đang được quan sát và trải nghiệm BÂY GIỜ. Mọi thay đổi về nhận thức, thái độ, cảm nhận, và lựa chọn, đều xảy ra NGAY LÚC NÀY. Đó là toàn bộ ý nghĩa đằng sau cái được gọi là sức-mạnh-của-hiện-tại.
Thế thì tại sao con người lại lớn lên, lại già đi, lại chết? Tại sao vạn vật lại sinh rồi diệt? Nếu thời gian là ảo, tại sao mọi thứ lại có khởi đầu và kết thúc?
Khởi đầu và kết thúc của một cuộc tình, một sự nghiệp, hay chính cuộc đời chúng ta, là những trải nghiệm khác nhau mà ta nhận thức được là nhờ có thể xác hữu hạn này. Biết đâu, nếu lùi xa khỏi thân xác, chúng ta là một ánh nhìn bình thản quan sát mọi điều xảy ra với hiểu biết về vô thường và vô tận, với tất cả những kỳ diệu thiêng liêng mà người ta gọi là “Thượng Đế”, “Phật Tính” hoặc “Tình Yêu”? Biết đâu, thân xác sống/chết cùng thời gian này, dù đôi khi ta cảm thấy nặng trĩu như một lời nguyền, thực ra lại chính là ân huệ vĩ đại nhất mà vũ trụ đã dành cho ta?
Biết đâu, thân xác sống/chết cùng thời gian này, dù đôi khi ta cảm thấy nặng trĩu như một lời nguyền, thực ra lại chính là ân huệ vĩ đại nhất mà vũ trụ đã dành cho ta?
Và, khi ta nhận ra điều đó, khi ta có tất cả hiểu biết về thời gian, về điều thiêng liêng, về sự hữu hạn, ta sẽ sống như thế nào?
Như nhà khoa học Ian, để đáp lại câu hỏi của Louise, rằng “nếu anh có thể nhìn toàn bộ cuộc đời anh từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, liệu anh có muốn thay đổi gì không”, anh nói, “có lẽ anh sẽ bày tỏ những gì anh cảm thấy nhiều hơn”.
Như Rainer Maria Rilke, khi ông viết trong Thư gửi người thi sĩ trẻ tuổi: “Ở đây, thời gian không thể làm tiêu chuẩn đo lường. Một năm có kể gì; mười năm không là gì cả. Khi mình là nghệ sĩ thì có nghĩa là không tính toán, không kể số. Khi mình là nghệ sĩ thì có nghĩa là nẩy nở như một cây lá không hề bức thúc nhựa cây, đứng vững một cách tín thành trong tất cả những ngọn gió lớn của mùa xuân, không hề sợ hãi nao núng rằng mùa hạ không trở lại nữa. Mùa hạ nhất định sẽ đến. Nhưng mùa hạ chỉ đến cho những kẻ nào biết chờ đợi, chờ đợi một cách trầm lặng và cởi mở như là mình đã có cả vĩnh cửu trước mắt mình. Tôi đã học được điều ấy mỗi ngày bằng bao nhiêu cơn đau đớn, bằng bao nhiêu nỗi đau khổ mà tôi vẫn cảm tạ: Kiên nhẫn vẫn là tất cả.” (5)
Hay, như Bùi Giáng:
“Yêu nhau một phút cũng đành / Miễn là phút ấy chân thành yêu nhau”
arrival4

PHẦN 3 – ĐIỀU BÍ ẨN

Khẩn cấp: người ngoài hành tinh đã xuất hiện ở nhiều điểm khác nhau trên trái đất, phi thuyền của họ treo lơ lửng trên trời như những viên sỏi hình bán nguyệt khổng lồ. Không ai biết họ từ đâu đến, họ đã đến bằng cách nào, và đến đây để làm gì. Vấn đề nghiêm trọng nhất: họ không làm gì cả.
Làm thế nào bây giờ? Nếu họ tấn công thì thật dễ: chúng ta chỉ cần tự vệ. Dù họ là những kẻ tàn bạo nhất dải ngân hà, những sinh vật thông minh quỷ quyệt nhất, những nền văn minh hùng mạnh nhất: chỉ cần họ tỏ ý muốn xâm lược trái đất, chúng ta nhất định sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Hãy cứ yên tâm: trong các bộ phim xưa nay về người ngoài hành tinh, cuối cùng bao giờ nhân loại cũng giành phần thắng. Nhưng đây là lần đầu tiên có một thể loại khách không mời từ vũ trụ lạ lùng như vậy: họ nhất định cứ treo lơ lửng trên đầu chúng ta và không làm gì. Giờ sao?
Arrival đã làm được một điều tuyệt đẹp: giữ cho điều bí ẩn được hoàn toàn bí ẩn. Dù ta có đề phòng hay sợ hãi: điều bí ẩn vẫn lặng im. Dù ta có phần nào hiểu được ngôn ngữ của họ: điều bí ẩn vẫn hiện diện. Dù ta có suýt tung ra tất cả hoả lực đang có: điều bí ẩn vẫn vẹn nguyên.
Họ ở đây để làm một việc thôi: nhắc ta nhớ về điều bí ẩn.
Albert Einstein khẳng định: “Điều đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể trải nghiệm được chính là cái bí ẩn. Đó là cảm thức nền tảng tạo nên cái nôi của nghệ thuật và khoa học chân chính. Kẻ nào không biết đến nó, không còn khả năng tự vấn hay kinh ngạc, kẻ đó có thể coi như đã chết, chết như một cây nến tàn… Với tôi, sự huyền bí trong cái vô tận của đời sống, cùng với chút hé mở về cấu trúc diệu kỳ của thực tại, cũng như sự nỗ lực hết mình để thấu hiểu một phần, dù rất nhỏ bé, của cái Uyên nguyên tỏa rạng trong cõi tạo hóa này, đã là đủ rồi.” (6)
Nhưng ta thường đối xử với cái bí ẩn như thế nào? Ta dựng hàng rào cao, ta huy động vũ khí, ta mặc giáp chống phóng xạ. Toàn bộ sự chú ý của chúng ta dồn vào quán tính tự vệ. Toàn bộ sự suy đoán của chúng ta hướng về giả thiết sẽ bị tấn công. Toàn bộ năng lượng của chúng ta dùng để chuẩn bị chiến tranh. Nhưng, như một tấm gương trong suốt, cái bí ẩn cho ta thấy: chiến tranh xảy ra không do đâu khác ngoài chính sự sợ hãi và chộn rộn trong mỗi con người. Cuộc sống không phải là một trò chơi có tổng bằng không. (Life is a non-zero-sum-game). Không ai khác tấn công chúng ta, ngoài chính chúng ta.
Rainer Maria Rilke tha thiết: “Ồ ước gì con người có thể cưu mang niềm bí ẩn này, trần gian gồm đầy bí ẩn ở ngay cả nơi những sự vật nhỏ bé nhất, ước gì con người có thể cưu mang sự bí ẩn ấy cho chính mình, cưu mang một cách khiêm cung, chịu đựng sự bí ẩn một cách nhẫn nại, cảm nhận bao nhiêu nan điểm của niềm cơ mật kia, thay vì nhận lấy điều huyền bí một cách bộp chộp, khinh suất.”(7)
Ước gì con người có thể đối diện với điều bí ẩn mà không cần mặc áo giáp. Trên thực tế, đó là cách duy nhất để làm điều đó: chúng ta chỉ có thể kết nối và thấu cảm cái bí ẩn bằng thân thể trần trụi và trái tim rộng mở. Henry Miller viết rất nhiều về điều đó: “Khoảnh khắc ta quan sát thật kỹ một điều gì, dù chỉ là nhánh cỏ, nó sẽ mở phơi một thế giới huyền bí, tuyệt diệu, lộng lẫy khó tả.” (8) Nhưng liệu đó có phải là cách mà chúng ta đang sống?
“Mỗi ngày ta đều đang giết đi những rung động vi tế nhất của mình. Đó là lý do vì sao ta lại thấy nhói đau khi ta đọc những dòng chữ viết bởi một bậc thầy nào đó và nhận ra chúng là của mình – những chồi non mà ta đã tự ngắt chỉ bởi ta không đủ tin tưởng vào sức mạnh của chính mình, vào đánh giá của riêng mình về sự thật và cái đẹp. Mỗi con người, khi y hoàn toàn im lặng, khi y trở nên tuyệt đối trung thực với bản thân mình, y có khả năng chạm đến những sự thật sâu xa nhất. Chúng ta đều khởi đi từ cùng một nguồn cội. Chẳng có gì bí ẩn về nguồn gốc của vạn vật. Chúng ta đều là một phần của tạo hoá, một phần của tất cả các hoàng đế, các nhà thơ, các nhạc sĩ; chúng ta chỉ cần mở ra, để nhận thấy những điều vốn đã ở đó từ lâu.” (9)
Chúng ta chỉ cần mở ra, để nhận thấy những điều vốn đã ở đó từ lâu.
Yên lặng, trung thực, mở phơi: rõ ràng đó không phải là điều đa số chúng ta đang làm.
“Chúng ta bày các phát minh phát kiến của mình ra khắp hành tinh, chưa từng cân nhắc khả năng rằng chúng không cần thiết, thậm chí còn gây hại. Chúng ta chế tạo nhiều phương cách liên lạc siêu phàm, nhưng chúng ta có đang giao tiếp với nhau hay không? Chúng ta di chuyển cơ thể mình trong không gian bằng siêu tốc độ, nhưng liệu chúng ta đã bao giờ rời khỏi điểm xuất phát? Tâm trí, đạo đức, linh hồn của chúng ta đều bị giam cầm. Chúng ta đã thu nhặt được gì khi san phẳng những rặng núi, rút năng lượng từ các dòng sông hùng vĩ, hay di chuyển cả một khối lượng dân cư khổng lồ như xếp đặt những quân cờ, nếu chúng ta vẫn cứ là những sinh thể bất an, khốn khổ, cạn kiệt như xưa? Coi như thế là sự tiến bộ thì thật là bịp bợm. Chúng ta có thể thành công trong việc biến đổi toàn bộ bề mặt trái đất, đến mức thậm chí Đấng Sáng Tạo còn không nhận ra, nhưng nếu bản thân chúng ta vẫn không suy chuyển chút nào, thì ý nghĩa của tất cả những việc đó là gì?”(10)
“Việc của ngươi không phải là tìm kiếm tình yêu, mà chỉ là tìm thấy và hạ xuống những hàng rào ngăn cách với tình yêu mà ngươi đã dựng lên trong lòng mình.” – RUMI
Điều bí ẩn, Sự sống, Thượng Đế, Tình yêu – gọi là gì cũng được – đang hiện diện quanh ta. Trong tất cả thời gian. Trong mọi dạng ngôn ngữ. Trong từng hơi thở phập phồng.
“Đời sống cứ tiếp tục diễn ra, dù chúng ta hành xử như những kẻ hèn nhát hay như những người hùng. Đời sống không có một quy luật nào khác ngoài việc chúng ta cần nhận ra và hoàn toàn chấp nhận đời sống một cách vô điều kiện. Tất cả những gì ta bàng quan, tất cả những gì ta chạy trốn, tất cả những gì ta chối bỏ, phỉ báng hay khinh miệt, rốt cuộc sẽ quay lại đánh bại ta. Những gì trông qua có vẻ dơ dáy, đớn đau, xấu ác, có thể trở thành nguồn cơn của vẻ đẹp, của phúc lạc, và của sức mạnh, nếu được đối diện bằng một tâm trí rộng mở. Mọi khoảnh khắc đều có thể trở thành hoàng kim cho những ai có đủ tầm nhìn để nhận ra điều đó.” (11)
———
Ghi chú:
(3) Trích dịch Chương 2, Phần 1, “Sapiens: A brief history of humankind”, Yuval Noah Harari. http://erenow.com/common/sapiensbriefhistory/7.html
(4) Trích dịch “The time keeper”, Mitch Albom
(5) Trích Bức thư thứ ba, “Thư gửi người thi sĩ trẻ tuổi”, Rainer Maria Rilke, Hoàng Thu Uyên (Phạm Công Thiện) dịch.
(6) Trích dịch tiểu luận “Thế giới như tôi thấy” (The world as I see it), Albert Einstein, trong tập “Ideas and Opinions” của Three River Press.
(7) Trích Bức thư thứ tư, “Thư gửi người thi sĩ trẻ tuổi”, Rainer Maria Rilke, Hoàng Thu Uyên (Phạm Công Thiện) dịch.
(8),(9),(10),(11) Trích từ nhiều nguồn của Henry Miller.
———————————

mỗi ngày một gần hơn

“Kiên nhn với những gì còn vướng mắc trong tim em và c gng yêu những câu hỏi, như yêu những căn phòng đóng kín và ôm ấp những cuốn sách viết bằng ngôn ngữ xa lạ. Đừng vội tìm kiếm ngay bây giờ những câu trả lời, chúng chưa được trao cho em vì em chưa đủ khả năng để sống chúng. Và vấn đề cốt lõi là, cần phải sống tất cả mọi thứ. Sống những câu hỏi bây giờ. Có thể nhờ thế mà em sẽ dần dần, dù em không nhận ra, mỗi ngày sống gần hơn vào câu trả lời.”

“Be patient toward all that is unsolved in your heart and try to love the questions themselves, like locked rooms and like books that are now written in a very foreign tongue. Do not now seek the answers, which cannot be given you because you would not be able to live them. And the point is, to live everything. Live the questions now. Perhaps you will then gradually, without noticing it, live along some distant day into the answer.”

Rainer Maria Rilke

giấy

em đứng đó. mọi thứ quanh em đều không thực. em chắc chắn là không thực. nhưng không có thực tại nào khác.

mọi thứ màu xám, xốp và khô như bìa các-tông. như thể một lão già rảnh ngồi chơi xếp giấy và làm phim stop-motion. như thể em chính là lão già ấy.

em thấy bên kia đường có một xe tải chở bia đổ tràn ra đường, và người ta đang ào vào nhặt. cảnh quay rất chậm, từng mảnh bìa thấm ướt bia, bia hay là mồ hôi, hay là nước đái, kiểu gì thì kiểu, dù ướt nhẹp vẫn là một cảnh phim chậm và khô.

em thấy người ta đâm nhau. dao xếp bằng giấy, tất nhiên rồi. máu bằng xi-rô dâu, thơm và ngọt. giấy trên mặt người ta nhăn nhăn.

em lại thấy người ta ăn. uống. xếp hình. quay phim chụp ảnh. chồng đè lên nhau những hình nhân giấy.

bọn giấy nói. ồ chúng nói mới nhiều làm sao. sột soạt xột xoạt.

em với tay tìm một que diêm.

bàn tay giấy của em run run.

cái làm tôi say sưa yêu dấu (*)

Nghĩ lại, mình toàn mê say những nhân vật có vấn đề.

Holden chán học và chán đời. Chửi từ trên xuống dưới từ trong ra ngoài. Ôi lũ bộ tịch khốn nạn.

Zorba không có thứ gì là không làm, giai gái thác loạn, đi lính giết người như ngóe, lấy tiền mua thiết bị đi bao gái, rốt cuộc làm sụm luôn cả một dự án lớn của sếp rồi ngồi cười phe phé.

Roark kiêu hãnh và hiên ngang ỉa vào mặt xã hội. Nhưng sau này mình không thích Roark lắm nữa.

McMurphy là một thằng điên, bị tống vào trại điên vì ma túy, gái gú, hãm hiếp, cướp phá, không thiếu một thứ gì. Vào trại suýt thì giết chết tươi con mẹ y tá trưởng, nhưng không được, bị nó tiêm thuốc cho đi đảo.

V nói, ý tưởng chính là giáp chống đạn. Cứ bắn đi xem nào.

Osho đi đâu cũng kêu gọi chúng dân tận hưởng đi, hoan lạc đi, mở vũ hội đi, làm cho hàng trăm ngàn người nhảy múa, rốt cuộc đi đến đâu cũng bị chính phủ các nước căm ghét và trục xuất.

Alex Supertramp vứt hết để mò lên Alaska sống trong một cái xe bus hoang, cuối cùng chết vì đói và lạnh và trúng độc.

Phạm Công Thiện là thiên tài ngôn ngữ, viết xuống chữ nào cũng cháy phừng phừng như lửa.

Daisuke Nakanishi 11 năm trên lưng xe đạp, một mình đi khắp thế giới.

Van Gogh. Rimbaud. Rainer Maria Rilke. Trần Dần.

Những linh hồn cô độc vĩ đại.

Có người do hư cấu mà ra, có người đã chết, có người đang tiếp tục sống. Không quan trọng. Nếu đằng nào mình cũng khó có khả năng gặp họ, mà kể cả có gặp họ đi nữa, chẳng phải rốt cuộc họ cũng chỉ là những hình ảnh, những ý tưởng ở trong đầu mình hay sao? Và ở trong ấy thì họ lúc nào cũng sống. Sống tham lam, sống mãnh liệt, sống vừa như thể ngày mai sẽ chết, vừa như thể mình bất tử.

Và đúng là như thế. Tất cả đều đúng. Tất cả mọi trạng thái trên đời đều cần được trải qua. Chúng ta ở đây để học. Và ta càng sống một cách điên rồ thì khả năng trải qua mọi trạng huống cùng cực trên đời càng trở nên rộng mở, và việc học của ta càng dễ tiến bộ.

Nhân quả chính là thầy giám thị, các em cứ tự do thoải mái mà học tiếp đi thôi.

 

——

(*)Mượn vế sau một câu trong tập “Mặt trời không bao giờ có thực” của Phạm Công Thiện: “Cái gì tôi không hiểu nổi, cái ấy làm tôi say sưa yêu dấu”.

ngày em đọc những dòng này

Hôm nay, em đọc vài điều khiến em xúc động và giúp em nhận ra không còn nỗi sợ nào để phải sợ nữa. Không còn nước mắt để phải khóc. Không còn cổ để phải treo lên vì nhục nhã. Rằng mỗi khi em nghĩ rằng em đã xúc phạm ai đó, em chỉ tưởng tượng ra thôi và thực ra tất cả họ đều yêu thương em và không gì có thể thay đổi điều đó. Rằng mọi người và mọi điều đều sống bên trong em. Rằng điều đó cũng không làm cho bất cứ gì trở nên bớt thực hơn.

Rằng những đụng chạm nhẹ nhàng sẽ thay đổi em và ở lại với em lâu hơn là những va đập mạnh.

Rằng một mình có nghĩa là em đang tự do. Rằng những người tình cũ nhớ em và những người tình mới muốn em và người tình hiện tại đúng là người mà em cần ở cạnh. Rằng dòng điện li ti đang chạy xuống cánh tay em chính là lông vũ của thiên thần và họ liên tục thì thầm vào tai em, nếu em chọn lắng nghe họ nói. Rằng mọi điều em muốn xảy ra, sẽ xảy ra, nếu em quyết định rằng em thực sự muốn chúng. Rằng mỗi khi em nghĩ một điều buồn, em có thể nghĩ một điều vui thay thế. Rằng em hoàn toàn kiểm soát điều đó.

Rằng những người làm cho em cười là những người đẹp hơn những người đẹp. Rằng em cười nhiều hơn em khóc. Rằng khóc là tốt cho em. Rằng những người mà em căm giận rất mong em ngưng giận và chính em cũng mong việc đó. Rằng bạn bè em chính là phản chiếu những phần tốt đẹp nhất của em. Rằng em lớn hơn tổng của tất cả mọi điều em biết và tất cả cách em phản ứng với chúng. Rằng nhảy múa đôi khi quan trọng hơn là nghe nhạc.

Rằng những khoảnh khắc đáng xấu hổ nhất, khó xử nhất trong cuộc đời em chỉ tồn tại trong trí nhớ của riêng em mà không của ai khác. Rằng không ai đánh giá em khi em bước vào phòng và tất cả những gì họ muốn biết đó là em có đánh giá họ không. Rằng những gì em tạo ra và những gì em làm với thời gian của em quan trọng hơn là những gì em hiểu. Rằng sự khác biệt giữa công việc và nghệ thuật chỉ là niềm đam mê. Rằng chẳng việc nào trong hai việc đó định nghĩa được em. Rằng nói chuyện với người lạ chính là cách em kết bạn.

Rằng một ngày tồi tệ rồi sẽ kết thúc nhưng một nụ cười sẽ đi khắp thế gian. Rằng cuộc sống liên tục tự mâu thuẫn chính nó. Rằng chính đó là lý do tại sao nó đáng sống.

Rằng sự khác nhau giữa nỗi đau và tình yêu là thời gian. Rằng tình yêu chỉ thực đến mức em muốn. Rằng ngày nào mặt trời cũng mọc lên và tùy em có muốn mọc cùng với nó hay không. Rằng quyết định của em bây giờ, chính thời điểm này, sẽ thay đổi tương lai. Mãi mãi. Rằng mưa rất đẹp.

Và em cũng thế.

you are loved

Mưa dịch từ “I wrote it for you” by pleasefindthis
Ảnh từ http://owltryanythingonce.tumblr.com/

to live is to risk

“Yêu, là chấp nhận có thể không được yêu. Sống, là gánh lấy sức nặng cái chết. Hy vọng, là nhận rủi ro tuyệt vọng. Dấn thân vào bất kỳ điều gì, là chấp nhận khả năng thất bại. Nhưng mạo hiểm là cần thiết. Bởi mối nguy lớn nhất trên đời là không bao giờ mạo hiểm điều gì. Người không mạo hiểm là người không làm gì, không có gì, không là gì. Họ có thể tránh bớt chịu đựng và buồn đau, nhưng họ đơn giản không thể học, không thể thay đổi, không thể cảm, không thể trưởng thành, không thể yêu, không thể sống… Bị xích chặt vào tâm thế của mình, họ chỉ là bầy nô lệ chối bỏ tự do. Chỉ những ai mạo hiểm mới là người tự do.”

“To love, is to risk not being loved in return. To live, is to risk dying. To hope, is to risk despair. To try at all, is to risk failure. But risks must be taken. Because the greatest hazard in life is to risk nothing. The person who risks nothing, does nothing, has nothing, is nothing. They may avoid suffering and sorrow, but they simply cannot learn, change, feel, grow, love, live… Chained by their attitudes they are slaves who had forfeited all freedom. Only a person who risk is free.”

(Die Trying: One Man’s Quest to Conquer the Seven Summits – Page 135)

mưa trên bức tường ngày

Em sẽ không bao giờ gặp ai từng làm điều gì vĩ đại lại ngồi chờ được phép để làm điều đó.

Đừng có mà mở miệng nói với anh rằng không điều gì là quan trọng cả. Mọi thứ trên đời đều quan trọng. Từng giọt mưa, mẹ kiếp, từng sợi nắng, từng khóm mây đều quan trọng và chúng quan trọng vì anh thấy chúng và nếu anh có thể thấy chúng thì chúng cũng có thể thấy anh và anh biết có cả một thế giới nguyên vẹn ở ngoài kia quan tâm đến chúng ta, ẩn mình đằng sau cái thế giới thờ ơ vô cảm này, sợ hãi không dám ra mặt. Và cùng với em hay không cùng với em, anh vẫn sẽ kéo thế giới đó lên khỏi bùn đất và máu me và cứt đái cho đến khi chúng ta sống trong nó. Cho đến khi tất cả chúng ta đều sống trong nó.

Rất nhiều người vĩ đại đã từng bị gọi là kỳ quặc để hôm nay em không bị gọi là gì cả.

Em quá dễ thương để kỳ quặc và quá kỳ quặc để dễ thương. Và em thấy kỳ kỳ khi người ta cố bắt chuyện với em. Vậy hãy tìm một công việc, nó an toàn hơn là nghệ thuật. Có lẽ người ta sẽ không chỉ trỏ săm soi quá nhiều. Kể cả đấy là những kẻ chỉ tồn tại trong đầu em. Đặc biệt là những kẻ chỉ tồn tại trong đầu em.

Khi anh đặt bút xuống, anh biết rằng ai đó, ở đâu đó đang cầm bút của họ lên. Anh biết rằng ai đó, ở đâu đó đang chơi đàn ghi-ta lần đầu tiên trong đời. Anh biết rằng ai đó, ở đâu đó đang nhúng cọ vào màu và đang tạo một lớp nền trắng. Anh biết rằng ai đó, ở đâu đó đang hát một bài hát chưa từng bao giờ được hát lên. Có lẽ ai đó, ở đâu đó sẽ tạo ra một điều gì đẹp, một điều gì hay, một điều gì làm thay đổi thế giới. Có lẽ nơi nào đó chính là nơi đây. Có lẽ ai đó chính là em.

Thật ra thì, tất cả những gì chúng ta muốn – anh đang nói hộ cho toàn thể nhân loại – chỉ là kết nối. Ai đó nói cho ta biết ta không cô đơn. Rằng thế giới không phải là một giấc mơ và em và anh đang thực sự xảy ra trong cùng một thời gian, cho dù không cùng địa điểm. Rằng chuyện này có thực. Rằng em có thực ở đó. Anh có thực ở đây. Chúng ta có thực.

Rằng toàn bộ chuyện này là có thực.

 

——

Mưa dịch từ “I wrote it for you” của tác giả Pleasefindthis.

về nỗi buồn

“Tôi cho rằng phần lớn nỗi buồn của chúng ta chỉ là những khoảnh khắc căng thẳng, khi ta như tê liệt bởi không còn cảm thấy điều gì mới mẻ sinh động nữa. Vì ta quá cô độc trước hiện hữu xa lạ vừa xâm nhập vào ta; vì mọi điều ta tin tưởng thân quen đã bị tước đoạt khỏi ta trong thoáng chốc; vì ta chênh vênh giữa dòng chuyển tiếp nơi ta không cách gì đứng vững. Đó là lý do tại sao nỗi buồn trôi đi: hiện hữu mới bên trong ta, vừa mới xuất hiện, đã đi vào trái tim ta, vào đến căn phòng sâu kín nhất và thậm chí đã không còn ở đó, mà đã đang chảy trôi trong mạch máu của ta. Ta không biết đó là gì. Ta thường dễ dàng nghĩ rằng không gì đã xảy ra cả, nhưng ta vẫn thay đổi, như ngôi nhà đã thay đổi khi khách lạ bước vào. Ta không biết ai đã đến, có thể sẽ không bao giờ biết, nhưng rất nhiều dấu hiệu đã chỉ ra rằng đây chính là cách tương lai đã đi vào trong ta để biến đổi ta, rất lâu trước khi nó thực sự xảy ra. Và đó cũng là lý do tại sao cần phải ở một mình và cần phải thật sự chăm chú khi buồn: bởi vì những khoảnh khắc bất động tưởng như không có gì xảy ra này, khi tương lai đang đi vào trong ta, thực ra gần gụi với đời sống hơn rất nhiều những sự kiện ồn ào ngẫu hứng khác xảy ra với ta từ bên ngoài. Ta càng im lặng, càng kiên nhẫn và rộng mở, sự hiện diện mới càng đi vào ta sâu hơn và trầm lặng hơn, và ta càng có khả năng trở thành nó, và biến nó thành định mệnh của riêng mình.”

“It seems to me that almost all our sadnesses are moments of tension, which we feel as paralysis because we no longer hear our astonished emotions living. Because we are alone with the unfamiliar presence that has entered us; because everything we trust and are used to is for a moment taken away from us; because we stand in the midst of a transition where we cannot remain standing. That is why the sadness passes: the new presence inside us, the presence that has been added, has entered our heart, has gone into its innermost chamber and is no longer even there, – is already in our bloodstream. And we don’t know what it was. We could easily be made to believe that nothing happened, and yet we have changed, as a house that a guest has entered changes. We can’t say who has come, perhaps we will never know, but many signs indicate that the future enters us in this way in order to be transformed in us, long before it happens. And that is why it is so important to be solitary and attentive when one is sad: because the seemingly uneventful and motionless moment when our future steps into us is so much closer to life than that other loud and accidental point of time when it happens to us as if from outside. The quieter we are, the more patient and open we are in our sadnesses, the more deeply and serenely the new presence can enter us, and the more we can make it our own, the more it becomes our fate.”

― Rainer Maria Rilke

ăn thịt

Hôm trước uống trà với cô bạn người Ma-rốc, tôi có một cuộc nói chuyện thú vị về hành vi ăn thịt của con người. Cô kể, ở các nước Hồi giáo như nước cô, người ta rất cẩn trọng khi giết thịt một con vật. Thứ nhất là không để cho con vật đó biết là nó sắp bị giết. Bằng cách vòng ra đằng sau và cứa cổ con vật một cách nhanh gọn, người ta muốn đảm bảo rằng con vật có một cái chết chóng vánh nhất có thể. Tiếp theo, tất cả máu trong người con vật phải được đẩy ra ngoài, bằng cách cắt đúng vào động mạch cổ và treo ngược con vật lên. Người Hồi tin rằng cảm giác đau đớn, tức giận, sợ hãi của một con vật trước khi chết đủ mạnh để làm độc máu của chúng và nếu lượng máu này không được rút ra khỏi cơ thể nó nhanh chóng, họ từ chối ăn thịt nó.

Điều này khớp với tư tưởng của Osho về thực phẩm. Ông cho rằng toàn bộ cảm giác đau đớn, sợ hãi, thù hận của một con vật trước khi chết, dù ít hay nhiều, đều ở lại trong thịt của chúng và truyền vào người ăn nó. Con vật càng thông minh, càng có nhiều xúc cảm, thì lượng chất độc này càng lớn và càng mạnh. Đây là nguyên nhân khiến những người ăn thịt có xu hướng nóng giận và sử dụng bạo lực nhiều hơn những người ăn chay rất nhiều.

Nghĩ lan man về chuyện ăn thịt, tôi không thể không nghĩ về Việt Nam. Gần đây có vụ nhà báo người Mỹ viết một bài về thói quen ăn thịt của người Việt, ngay lập tức bị chỉ trích và tấn công kịch liệt bởi một lượng lớn “cư dân mạng” Việt Nam. Chưa nói đến chuyện đúng sai, tôi có cảm giác thái độ nóng giận và phản ứng dữ dội ấy đã nói lên phần nào sự hung hăng sẵn có luôn sẵn sàng bật ra khi bị chỉ trích. Phải chăng đó là do việc ăn thịt?

Từ bé, tôi đã được làm quen với ý tưởng rằng chúng tôi có thể ăn bất cứ thịt gì. Không chỉ gia súc gia cầm như gà, lợn, bò, cá, tôm mà cả vật nuôi như chó, mèo và những sinh vật trong tự nhiên như ếch, cóc, chim, chuột, cào cào châu chấu… Bà ngoại tôi sẵn sàng làm thịt bất cứ con vật gì cho chúng tôi ăn, miễn là chúng ngon và bổ (sự ngon và bổ này thường chỉ do quen khẩu vị và đồn đoán chứ không theo một cơ sở khoa học nào). Bố tôi dạy tôi làm thịt cóc. Bọn nhóc chúng tôi phá tổ ong lấy nhộng xào với cơm, buổi sáng sớm đi bắt ve non đem về chiên… Cho đến khi có nhận thức rõ ràng về việc sát sinh, cái thằng tôi hồi bé hoàn toàn được lĩnh hội văn hóa tất-cả-các-con-vật-đều-có-thể-là-đồ-ăn của người Việt.

Tôi nghĩ nguyên nhân trực tiếp của thói quen này là chiến tranh: khi người ta đói, mọi thứ đều trở thành đồ ăn, thậm chí không trừ cả con người trong những trường hợp cực đoan nhất. (Nếu lý thuyết về chất độc phía trên là đúng, thì lượng chất độc trong thịt người hẳn là cao nhất vì con người sở hữu trí tuệ và xúc cảm mạnh nhất. Có lẽ đó là một trong các lý do ngăn cản người ăn thịt người?)

Nhưng kể cả khi người ta đã đủ ăn, thói quen giết hại các con vật để ăn vẫn còn ở lại với người Việt. Ăn thịt không còn là để chống đói, mà để cho vui, để nhậu, hoặc để làm thuốc. Những tin tức về động vật bị giết hại ở Việt Nam luôn cứa vào lòng tôi một cảm giác nghèn nghẹn rất khó nguôi ngoai. Một đàn bạch hạc bị giết làm mồi nhậu. Thịt thú rừng treo nhan nhản trên lối vào chùa Hương. Cả việc chém tươi một con lợn để rồi dân làng reo hò chen lấn nhúng tiền vào máu lấy hên cũng được tổ chức thành một lễ hội “tiếp nối truyền thống cha ông”. Phải chăng là vì chúng ta đã ăn quá nhiều thịt?

Rồi lại nghĩ lan sang việc ăn thịt chó. Tôi nghĩ nếu người ta nuôi nhốt và cho sinh sản chó đại trà như bò, lợn thì không sao. Đằng này nguồn thịt chó lại đến chủ yếu từ chó bắt trộm. Làm sao người ta biết người ta không đang ăn thịt chính con chó của mình vừa mất?

Tôi không bao giờ quên cảm giác đi tìm chú chó bị bắt trộm của mình. Em Bông là chó lai, người chắc lẳn, có tai nhọn như tai cáo và màu lông nâu đỏ hiếm có. Em ở với nhà tôi rất lâu, khoảng 7 năm, kể cả khi nhà tôi chuyển đến địa chỉ mới, em cũng đi theo. Em ngoan và tính hơi nhát. Mặt em rất hiền. Ngày em bị bắt, chúng tôi chạy bổ đi tìm khắp thành phố. Tôi và anh bạn thân sục vào tất cả các quán thịt chó mà tôi biết, vừa năn nỉ vừa thuyết phục họ cho tôi vào chỗ họ nhốt chó để xem em Bông có ở đó không. Có nơi nhất quyết không cho chúng tôi vào, bạn tôi phải đánh lạc hướng chủ quán để tôi xông bừa vào phía sau quán của họ. Chúng tôi mất ba ngày tìm kiếm, chạy cả ra những trại chó ở rìa thành phố nơi trung chuyển chó để chuyển vào Nam hoặc ra Bắc. Không tìm thấy em Bông ở đâu cả. Cảm giác em đang nằm trên bàn nhậu ở một nơi nào đó là một cảm giác không tả được và không quên được.

Em Bông nằm phơi nắng, sáng mùng 1 Tết, 2010

Em Bông nằm phơi nắng, sáng mùng 1 Tết, 2010

Một điều tôi không quên được nữa, đó là cảnh tượng phía sau các quán thịt chó, nơi lũ chó đang bị nhốt chờ ngày “lên đĩa”. Chúng rõ ràng là đã bị thuốc, tất cả đều mệt mỏi chọn một chỗ nằm yên không cử động. Những sinh vật tội nghiệp nằm chờ chết, mắt lờ đờ, miệng hổn hển, ngẩng đầu nhìn tôi với ánh mắt sợ hãi, đau đớn và trách móc. Tôi không biết phải làm gì, trong đầu tôi chỉ có thể tưởng tượng ra cảnh em Bông đang chịu đựng điều tương tự, ở một xó chuồng bẩn thỉu nào đó. Tôi chợt nghĩ, sẽ thế nào nếu những người đang ăn thịt chó đứng dậy bước ra sau quán, chỗ những con chó bị nuôi nhốt, thử nhìn chúng một lần. Có thể họ không bao giờ ăn thịt chó nữa. Cũng có thể họ sẽ tiếp tục đi đái và ra ăn tiếp chỗ rựa mận một cách ngon lành. Tôi không biết.

Những ngày này ở Savannah, tôi thường dậy sớm ra công viên ngay cạnh nhà để chạy và tập kiếm gỗ. Ở chỗ tôi, chim và sóc cũng dậy sớm, chúng chạy nhảy lích chích khắp nơi. Có lẽ về Việt Nam tôi sẽ nhớ nhất cảnh này, khi tôi ngồi ở bất cứ chiếc ghế nào trong công viên, cũng có thể nghe tiếng chim hót và nhìn thấy vài cái đuôi xù lũn cũn nhấp nhô quanh một gốc cây nào đó.

Từ nhỏ tôi đã được học đất lành thì chim đậu. Tôi muốn lắm, nhưng tôi không cảm thấy Việt Nam là một mảnh đất lành. Với chim. Và với những người hiền.

who are you, right now?

“Gần đây tôi luôn có cảm giác thật lạ khi gặp ai đó đã từng biết tôi. Tôi cảm thấy mình đã thay đổi quá nhiều trong một vài năm gần đây – nhiều đến mức tôi không còn nhận ra người mà tôi hiển nhiên đã từng là. Nhưng con người cũ đó của tôi vẫn còn tồn tại trong mắt mọi người. Khi tôi gặp bạn cũ hay họ hàng mà tôi đã không gặp kể từ hồi phổ thông, thật là đáng kinh ngạc khi nhận ra việc họ vẫn sống với một câu chuyện cũ về tôi, dựa trên những trải nghiệm và ký ức của họ nhiều năm về trước. Ai cũng có một phiên bản của riêng họ về tôi. Kể cả khi bạn thay đổi đến mức không thể nhận ra – kể cả là bạn đã chết! – thì mọi người vẫn mang một câu chuyện riêng của họ về cái người mà bạn là. Chúng ta sống trong những câu chuyện về người khác. Liệu có bao giờ chúng ta thực sự gặp nhau không?

Khi tôi bước vào phòng, bạn ngay lập tức phóng chiếu câu chuyện về tôi lên cơ thể này. Kể cả nếu bạn biết câu chuyện về cuộc đời tôi, với đầy đủ các dữ kiện, chi tiết, lịch sử, liệu bạn có thực sự biết tôi là ai không? Nếu bạn biết về tôi, liệu bạn có thực sự biết tôi? Nếu bạn bảo tôi kể cho bạn nghe, và tôi trả lời bằng một câu chuyện gồm những việc tôi làm, những mối quan hệ của tôi, những thành công và thất bại, những gì tôi thích và ghét, liệu rằng như thế tôi có đang nói với bạn sự thực về tôi? Hay là tôi chỉ kể cho bạn một câu chuyện về việc tôi là ai, chẳng khác một câu chuyện về một nhân vật trên màn ảnh? Liệu việc nói với bạn về những gì tôi đã làm trong quá khứ và những gì tôi muốn làm trong tương lai có nói với bạn chút gì về việc ai đang ở đây, chính tại thời điểm hiện tại?

Nếu không viện đến quá khứ hay tương lai, thì ngay tại đây, bây giờ, bạn là ai? “

—-

Mưa dịch từ “The Deepest Acceptance”, Jeff Foster, trang 83